Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

NỖI NIỀM - PHAN NGUYỄN CHÂU UYÊN - KỲ 7

CHƯƠNG III
TẬP TRUNG CẢI TẠO

    Lệnh tập trung từ 13 đến 16/6/1975.
    Về lại căn nhà vắng, lòng buồn mênh mông, tội nghiệp con tôi !
    Ngày 11/6/1975, báo “Sài Gòn Giải Phóng” số 31, đăng thông cáo qui định tất cả sĩ quan ngụy, phải trình diện đi “học tập cải tạo”. Bảng hướng dẫn cho sĩ quan đi “tập trung cải tạo”, đăng trên báo, nguyên văn như sau :
“ Mỗi người đến địa điểm học tập cải tạo, phải mang theo:
-          1 tháng ăn bằng tiền, mỗi ngày : 300đ x 30 ngày = 9.000 đ
-          1 ngày 0,7 kg gạo, mỗi ki lô bằng : 220 đ x 21 kí = 4.600 đ
-          Tổng cộng bằng : 13.610 đồng
-          Ngày tập trung đầu tiên, từng người phải mang theo thực phẩm khô để ăn  ngày hôm đó, ngày thứ hai nhà thầu phục vụ cơm nước “
    Chỉ những ai thơ ngây, thì sẽ tin một tháng, hành trang thiên lý chỉ có hai bộ đồ và tấm chăn mỏng. Mình tập trung tại đại học xá Minh Mạng trên đường Trần Hoàng Quân – Quận 5. Nhìn quanh, tìm thân quen, có người ngồi bó gối trầm tư, nhưng cũng có người như ở nhà, vô tư cười đùa.
    Khuya 16/6/1975, mình đang lơ mơ, không biết bây giờ Thái và hai con ra sao ? Bỗng nghe tiếng hô vang :” Dậy, dậy…xếp hàng một, mang cả “tư trang”, ba người một nhóm…” Mình không hiểu “tư trang” là gì.  Nhìn ra ngoài cổng, dưới ánh đèn vàng vọt, những chiếc Molotova nối đuôi nhau, ba mươi người leo lên xe bít bùng, ngồi quay mặt ra sau, hai anh bộ đội còn trẻ măng, cầm súng AK canh chừng.
    Xe khởi hành, không gian chìm trong bóng tối, không biết về đâu ? Gần sáng, xe dừng, nghe tiếng anh bộ đội “ – Ai đi giải xuống xe !” Mình không hiểu “đi giải” là đi đâu, nhưng mấy người lục đục xuống xe đi đái, mình cũng xuống theo. Nhìn cánh đồng lúa xanh mơn mởn, bầu trời trong veo trong sớm bình minh, mà lòng mình ngổn ngang trăm mối. Lên xe, nhiều giọng thì thào :”vào rừng…”
   Hơn mười giờ, xe dừng, nhảy xuống xếp hàng một. Một anh bộ đội, có lẽ chỉ huy “- Các anh nhanh chóng ổn định nơi ăn, chốn ở. Đây là nơi các anh học tập…”
   Những cái lô cốt đìu hiu, ngổn ngang vỏ đạn, quân trang, quân dụng rách nát…cỏ mọc lút đầu, con đường nhựa nham nhở ! Anh bộ đội chỉ huy nhìn quanh, rồi chọn một anh to lớn, chỉ định làm đội trưởng, anh Mừng – đại úy quân cảnh –
 May sao, trong đội có Nguyễn Đắc Vinh cùng khóa hải quân – bây giờ ở Úc – gặp lại Trương Vĩnh Ninh (K23/HQNT). Lần đầu tiên nghe từ “biên chế”, mình ở tổ 4, mỗi tổ 20 người, do anh Ngô Đa (bác sĩ) làm tổ trưởng. Thôi thì đủ ngành nghề, kỹ sư, bác sĩ, nhảy dù, biệt động quân, bộ binh, không quân, hải quân, giáo chức biệt phái, kiến trúc sư…
Trảng Lớn - Tây Ninh
    Sau mấy ngày dọn dẹp, những số phận giống nhau, cũng đần dần thích nghi với môi trường mới. Mỗi người được phát hai bộ treilli và một tấm vải rằn ri để đắp…Đêm mùa hè, nhưng lạnh lẽo trên tấm ri sắt. Mỹ không ngờ những tấm ri làm đường băng dã chiến, bây giờ là giường cá nhân, cho những “chiến hữu” của mình ! Hằng ngày tập tành tăng gia sản xuất, những luống rau muống, tưới nước tiểu xanh um.
   Gần một tháng, kể từ ngày tập trung, tất cả xếp hàng, lên hội trường Trung đoàn. Mình thuộc đội 4 của đoàn 500, do Thiếu tướng Đào Sơn Tây làm tư lệnh. Căn cứ sư đoàn 25 BB là đây – Trảng Lớn, Tây Ninh, gần biên giới Campuchia - Anh chính ủy Tiểu doàn 2 - Năm Luân – hướng dẫn học bài đầu tiên :”Chủ trương của nhà Nước đối với sĩ quan, binh lính chế độ cũ “ Rồi về tổ, tự phê bình, thảo luận, liên hệ tội ác của bản thân…
    Một chuyện khó quên, sau khi xem phim “ Nguyễn Văn Trỗi” và “Ngày Lễ Thánh”, cả đội ngồi sinh hoạt, anh Đội trưởng Mừng yêu cầu ai có ý kiến gì, xin mời phát biểu. Trung úy không quân Dương Hùng Cường – Dê húc càng – hăng hái : “- Tôi đã từng đóng phim, tôi chưa thấy phim nào mà tuyên truyền dở thế ! “ Anh Mừng hoảng hốt, đề nghị dừng. Lão Thuận – Trung úy bộ binh, đội phó – chữa cháy : “- Qua xem hai phim vừa rồi,  chúng ta mới thấy bộ mặt ắc ôn côn đồ…cộng sản !” Lão phát biểu xong, vênh váo nhìn mọi người. Ý của lão là “…ác ôn côn đồ Mỹ Ngụy !” nhưng quen mồm nói luôn một lèo, lão Thuận vội vàng đính chính :-“ Tôi không nói …thế ! “ cả đội cười nghiêng ngã, quên hết ưu tư.
    Sau đó mấy ngày, Dương Hùng Cường cùng một số người khác, chuyển trại, nghe nói ra miền Bắc. Gần cuối năm 1975, mùa Noel lạnh thấu xương, những tiếng đàn guitar tự chế, mang theo nỗi niềm u uẩn mênh mông. Hình bóng quê nhà, cha mẹ già lam lũ, vợ con nheo nhóc, không tin tức gì, lòng mình càng tái tê, buốt giá !
   Từ nơi hoang tàn chiến địa, đã chớm màu xanh cây lá. Những buổi sáng, buổi tối, bên lon guigo “cà phê” cơm cháy và đường Tây Ninh, Trương Vĩnh Ninh tài hoa mài mài, chế tác chiếc lược nhôm, nhặt từ phế liệu chiến tranh.
   Trước tết Bính Thìn (1976), Trung đoàn thông báo: Hòm thư 7590L1T2, nghĩa là trung đoàn 1, tiểu đoàn 2, đẻ thân nhân gửi quà và thăm nuôi. Mình bâng khuâng, không biết gửi cho ai ? Gửi về quê ư ? Cha mẹ và vợ con nheo nhắt, không biết sống ra sao ? đường xa vời vợi, cuối cùng gửi về anh chị Vũ Mỹ Saigon. Ngày thăm nuôi đầu tiên, nhìn quanh ai cũng có người thân, chỉ có mình và những người như mình, ngậm ngùi trong trại, chẳng ai gọi tên…

CÁNH HẠC


Người đã đến 
Không thư từ cánh hạc
Dấu giọt buồn
Và chiều mưa vẫn bay...
Ôi nỗi nhớ là kim đâm giá buốt
Thịt da anh, người yêu hỡi có hay ?
Xa lắm rồi
Kỹ niệm nào chợt đến
Đừng em ơi đừng phí một giây nào
Hãy để giận hờn - xin cho chắp cánh
Và chỉ còn hai đứa bên nhau
Là thời gian chắt chiu
Từ chín trăm ngày xa cách
Là sông Ngân cách mặt
Ôi tháng bảy mưa ngâu
Tìm đâu ô thước bắc cầu
Cho ta qua bến sông sâu tìm người ?
Dù là chỉ một giây thôi
Em ơi sao chỉ là lời đớn đau...
Chiều buồn chiều anh bơ vơ
Chiều thương em nhớ chiều mơ anh về
Dấu xưa tìm cõi hôn mê
Hạc ơi ngơ ngác sơn khê hạc buồn
Xa em nhớ chết nỗi lòng
Mưa giăng khuất nẽo đường trông quê nhà
Nhớ em và con xa xa
Nhớ như vô tận nhớ sa mặt trời
Nên chỉ còn là mưa rơi
Là giọt nước mắt nhớ người hạc ơi !

Phan Nguyễn Châu Uyên
Ga Trảng Táo - Xuân Lộc
1977
 
   Nhớ kỹ niệm cười ra nước mắt, anh T. (Dược sĩ) có mẹ lên thăm, cả tổ giúp anh thay áo quần, mặc quần không đồ lót. Ngày chưa đi cải tạo thì gầy, bây giờ mập ra do…phù thủng, chiếc quần tây bó chặc. Anh ngồi xuống bên mẹ, chiếc quần bung chỉ, trơ cả đít ! Mẹ ôm con khóc không thành tiếng. Mình nhận được gói quà từ chị Mỹ, mấy hủ tương chao và ít thuốc tây, chao ớt ăn cơm, sao mà ngon quá chừng…
    Khoảng tháng 3/1976, tập họp, biên chế. Người thì đoán đi Phú quốc, kẻ lạc quan có lẽ sắp được về, tất cả xếp hàng đi bộ ra cổng Trảng Lớn. Sau gần một năm, mới thấy xóm làng. Anh vệ binh dặn dò: “- Các anh không được tiếp xúc dân chúng, người dân còn căm thù các anh, sẽ nguy hiểm cho các anh !” Ngang qua chợ Long Hoa, xin anh vệ binh cho mua ít đường, người mua thuốc rê, thuốc lào, những tán đường vuông Tây Ninh ngọt lịm, ngon chưa từng có. Điều lạ lùng, dân căm thù sĩ quan ngụy, nhưng không tính tiền, mà còn cho thêm ? Mình chỉ còn 5 đồng (đã đổi tiền), mua hai ký đường, vẫn còn nguyên. Đường thiên lý lầm lũi, trời nắng chan chan, qua núi Bà Đen, vẫn còn đi mãi…
    Đường xe be hun hút, lầy lội. Đến cái “trảng” rộng lớn, chung quanh rừng vây quanh. Anh vệ binh hô lớn :”- Các anh dừng lại, đây là nơi tăng gia, sản xuất !”. Mấy anh bộ binh nói đây là Đồng Ban, gần Campuchia.
    Đêm đầu tiên, túm hai đầu tấm vải đắp, treo lên cây làm võng, muỗi, vắt tìm hơi người được bữa no nê, trên những thân người thiếu máu.
   Mình và Trương Vĩnh Ninh được phân công gánh lá. Nhìn răng cửa của Ninh trống hơ, không nhịn được cười, hai thằng cười lăn, cười bò. Răng bịt vàng, đổi lấy mấy củ khoai lang.
  Tháng 5/1976, chuyển lên Trảng Táo – Long Khánh, lại đốn cây, đốn tre, phát rừng làm rẫy.
   Ăn vội cơm nguội, dành lại từ chiều hôm qua, Hai thằng lên đường với bình đông nước, không có vệ binh đi theo. Cảm giác như chim sổ lồng, đi dọc theo đường tàu, vào rừng tìm tre, càng đi xa tít. Thỉnh thoảng gặp người dân tộc, những cô gái mang gùi, ngực trần, mình và Ninh nhìn không chớp mắt ! Tuổi hai sáu, hai bảy đầy nhựa sống, nhớ vợ nhớ con, gia đình mình sống bằng gì ? hai đứa con nhỏ dại, bên người vợ còn quá trẻ ?
    “Thứ nhất chặt tre, thứ nhì ve gái “. Gần trưa, chặt xong hai cây tre, buông dao ngước nhìn trời, làm sao kéo ra khỏi bụi tre rừng ? Phải phát quang, leo lên chặt hết cành, gai đâm buốt, kéo rách toạc chiếc áo đẩm mồ hôi. Đã xế chiều, đường về xa ngái, vác hai cây tre lên, lom khom đi chưa được 10 mét, đau vai quá, đành bỏ xuống. Vác từng cây một, cách khoảng 100 mét, quay lại, vác cây kia, cứ thế. Đường rừng mịt mù, mau tối, dây leo vương vấn, móc trước, kéo sau, mò mẩm trong đêm. Về đến trại đã hơn 20 giờ, mọi người nghĩ mình và Ninh trốn trại…
    Sau hai tháng miệt mài, “ổn định nơi ăn, chốn ở”, hai mươi người một gian nhà tranh. Buổi chiều hè nắng gắt, đốt cỏ dọn vệ sinh, đề phòng rắn rít, lữa gặp gió trở chiều, suýt nữa cháy nhà. Chỉ tiêu mỗi ngày chặt hai cây, đường kính ba tấc, bằng dao tự rèn hoặc một cây đường kính năm tấc. Xong một cây, mình cùng Ninh ngồi nghỉ, cây không ngã, ngọn vướng dây leo, bỗng nghe răng rắc, đánh sầm trước mặt mình, một nhánh bằng lăng to đùng. Hú hồn, nếu trúng đầu hai đứa…?
Ga Trảng Táo - Long Khánh

   Ngày đốt rừng làm rẫy, anh bộ đội hướng dẫn :”- Đốt ngược gió…” Lữa cháy suốt ngày đêm, sáng cả góc trời. Những lần đi lấy vật liệu, tranh tre, dọc theo đường rầy, ngang ga Trảng Táo, nhìn những chuyến tàu Bắc Nam, mình nhớ nhà da diết. Tình cờ gặp mấy đứa em của Bảo – bạn gần nhà Đà Nẵng - đi kinh tế mới Hàm Tân – Phan Thiết, những gói “quà” thuốc rê, kẹo, bánh, chuối, đường…từ người lữ hành không quen biết, trên những chuyến tàu ngược xuôi.
o O o
    Lại qua cái Tết Đinh Tỵ (1977), gần 900 ngày xa gia đình, mình không hình dung được các con ra sao ? có biết mình là cha không ? Ngày rời xa, Khánh Phương mới hai tuổi, Thục Nghi  hơn sáu tháng ?
    Rừng Long Khánh ngút ngàn, mình cùng Bác sĩ Phạm Đăng Thiện (Định cư ở Pháp, 1987) và Dược sĩ B. hiền như con gái, được phân công làm “anh nuôi”. Bốn giờ sáng, nấu cơm, canh, nước cho anh em mang theo ăn trưa, dọn dẹp, rửa nồi. Chia cơm xong, cạo cơm cháy, mấy anh em lên võng nhấm nháp, ngủ bù, kể nhau nghe chuyện trời mây…Thức dậy vo gạo, nhặt rau, chuẩn bị cơm chiều.
    Khoảng tháng 5/1977, lác đác mấy anh được gọi tên về. Anh Mừng – Đội trưởng – cũng được về đợt này, mình bất ngờ khi được gọi lên gặp lãnh đạo tiểu đoàn, hồi hộp, bước chân đi với bao nhiêu  hy vọng, quê nhà lung linh trước mắt…Nhưng mình được chỉ định thay anh Mừng, làm đội trưởng ! Giao lại bếp cho Thiện.
   Anh em đi làm vất vả, cơm không đủ ăn, suốt ngày lao động, nhưng công việc không xong ! Mình áp dụng giao khoán, mấy anh quản giáo không ý kiến gì, thế là anh em tha hồ về nghỉ sớm, miễn là đạt năng suất. Những trái bắp mập ú, những hạt đậu xanh, đậu đen tròn trịa trên vùng đất mới khai hoang, màu mỡ…
   Nhà Nước chủ trương khuyến khích, cấp đất cho sĩ quan cải tạo được về, lập nghiệp tại chỗ. Cuối tháng 10/1977, có đợt thăm nuôi lần thứ hai, anh em tất bật chặt cây, dựng nhà, chia phòng, chuẩn bị đón người thân. Mỗi gia đình một phòng, ở lại 24 tiếng đồng hồ, sau gần ba năm…
   Khánh Phương đen đúa như nông dân, không cho Ba bồng, khóc thét lên. Thái ngượng ngùng như ngày mới cưới. Dỗ dành được con, ôm con vào lòng, nước mắt rưng rưng. Vợ Nguyễn Hữu Sơn (Thanh Quýt) tình cờ đi cùng chuyến tàu với Thái, cùng xuống ga Mương Mán. Cha nói với Thái “ Đừng mang thịt, cá”, chỉ mang muối đậu, mè để mình mau về sớm. Mình nghe tin sắp được về, không biết khi nào, dặn Thái nán lại Saigon, đợi tin…
    Thời gian qua mau, đưa Thái và con ra ga Trảng Táo, mình nói nhà Nước cho những người cải tạo được về, có thể ở lại đây, xây dựng vùng kinh tế mới, được cấp 1000 m2 và căn nhà lá. Thái mừng rỡ, Thái ơi em quá thơ ngây, được về anh như con chim sổ lồng, bay vút trời mây ! Vội vã bay nhanh, không dám ngoảnh đầu nhìn lại ! Tình phụ tử kỳ diệu, Khánh Phương khóc thét lên, không rời Ba, tàu chạy xa dần, lòng mình tan nát, nói vậy chứ biết ngày nào đoàn tụ, cha mẹ ơi !
Thời gian này, chớm mầm Nguyễn Ngô Khánh Phi.
Nguyễn Ngô Khánh Phi
    Một tuần sau, khi giao ban ở tiểu đoàn, anh Năm Luân cho biết ngày mai mình sẽ được về ! Bất ngờ, luống cuống, mừng vui không thể tả. anh nhắn nhủ :”Anh phải về quê hoặc đi kinh tế mới, chứ không thể ở thành phố…”
    Một đêm thức trắng, nhìn lại bạn bè bồi hồi…Sơn còn ở lại, Ninh và Thiện đã về đợt trước. Sáng mai 7g tập trung ở Tiểu đoàn, nhận giấy ra trại, mười mấy ký gạo và 9 đồng. Mọi người ra ga chờ tàu, đọc đi đọc lại tờ giấy ra trại, mình vẫn chưa tin, bước chân lên tàu còn quay lui, có anh vệ binh nào chạy ra gọi lại không ?
   Hành trang qui cố hương, ôm gọn trong tay. Tàu về đến ga Hòa Hưng, vội vã đón xe lam Hưng Phú, qua khỏi cầu chữ Y, thấy Thái ở xe lam ngược chiều, mình hét to như thằng điên, nhìn bộ áo quần và chiếc “valy” bằng bao cát, có lẽ mọi người biết sĩ quan cải tạo mới về, nên cười xòa thông cảm.
    Hai hôm sau, mua vé về quê, Chỉ còn đủ tiền mua nãi chuối ăn đi đường và cơm cho Khánh Phương. Đến Nha Trang, ai cũng đi ăn, ngoại trừ vợ chồng mình, ngồi lại ăn…chuối. Dì N. đi buôn Đà Nẵng – Saigon, không quen biết, nhưng cho mượn 5 đồng, vậy là được ăn cơm chiều và mua sữa cho con. Sáng sớm, xe đến Vĩnh Điện, chào và cám ơn dì N. hẹn ngày báo đáp, cõng con đi bộ về Hạ Nông.
    Bước vào nhà, không phải là nhà. Căn nhà ngói khang trang ngày xưa, bị bom, chỉ còn trơ nền gạch đỏ. Mẹ hom hem, không như mẹ của ba năm về trước, cha vẫn căn bệnh phổi mãn tính, ho hen quanh năm, ho càng dữ dội hơn khi thiếu thuốc. Mẹ, mới hơn năm mươi, da đã nhăn nheo, mừng mừng, tủi tủi…Thục Nghi khoác ré lên :”…Mẹ, cậu…”, thân thể đầy ghẻ, chốc, đầu cạo trọc lóc. Ôm con trong tay, đầu óc trống rỗng như tương lai vô định của mình. Mẹ bắt uống bát nước lạnh, cho khỏi chống nước, cha ngồi nhìn thằng con rồi nói :”Nghỉ ngơi rồi trình diện chính quyền…”

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

HOÀNG GIA - NGÀY ẤY - BÂY GIỜ

1/ Trung đội trưởng Hồ Quang Chánh 
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Hoa Kỳ
2/ Bùi Văn Dân 
       -  Sinh năm : 1950
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Pháp

 3/ Đinh Kim Bản
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Đức
  4/ Nguyễn Trung Hiếu
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Houston - Texas - Hoa Kỳ
 5/ Trần Minh Hiện
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Không rõ
 6/ Hoàng Thế Hải
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Không rõ
 7/ Võ Bằng Quang 
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Duy Xuyên, Quảng Nam
8/ Tống Phước Hòa
       -  Sinh năm : 1950
       -  Nơi làm việc và sinh sống :  Không rõ
9/ Huỳnh Văn Hoàng 
       -  Sinh năm : 1950
       -  Nơi làm việc và sinh sống : An Giang
 10/ Nguyễn Văn Thiệu 
       -  Sinh năm : 1948
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Úc

    11/ Nguyễn Văn Ty 
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Huế

12/ Nguyễn Thượng Gia 
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Hoa Kỳ
    13/ Tạ Trung Đoàn 
       -  Sinh năm : 1938
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Đã mất
    14/ Lai Văn Hảo
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Hoa Kỳ
   15/ Phùng Hữu Nghĩa
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : An Cựu, Huế

   16/  Đồng Thắng 
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Quảng Ngãi
 17/  Lê Văn Út
       -  Sinh năm : 1947
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Canada
18/ Trương Công Ân
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Phú Nhuận, Saigon

18/ Bạch Minh Đoàn 
       -  Sinh năm : 1950
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Hoa Kỳ
19/ Nguyễn Mậu Lâng
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Long Xuyên

20/ Lê Văn Tường
       -  Sinh năm : 1951
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Không rõ
21/ Hồ Văn Năm
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Pháp
22/ Nguyễn Văn Phấn
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Không rõ
23/ Thái Văn Sáng
       -  Sinh năm : 1949
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Không rõ
24/ Nguyễn Văn Châu
       -  Sinh năm : 1952
       -  Nơi làm việc và sinh sống : Saigon

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

ĐOÀN THỊ ĐIỂM 1705 - 1748

Thân thế:         Bà Đoàn Thị Điểm, hiệu là Hồng Hà Nữ sĩ, biệt hiệu là Ban Tang, quê quán ở làng Hiến Phạm (còn gọi là Giai Phạm, tên nôm là làng Giữa), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Châu Giang tỉnh Hải Hưng. Bà chính họ là Đoàn, nhưng vì Bà lấy chồng họ Nguyễn (Ông Nguyễn Kiều), nên có sách chép Bà là Nguyễn Thị Điểm. Đây là một sai lầm đáng tiếc. Bà sanh năm Ất Dậu (1705), thời nhà Lê Trung Hưng, đời vua Lê Hy Tông, Chúa Trịnh là Định Vương Trịnh Căn và Chúa Nguyễn ở phương Nam là Nguyễn Phúc Chu.
         Theo gia phả họ Đoàn, Tằng tổ của Bà Điểm là Ông Lê Công Nẩm, làm quan võ tới chức Thái Thường Thị Thiếu Khanh, được tước phong Thiêm Hào Tử; Nội tổ là Ông Lê Doãn Vi (có bản viết là Lê Công Vị), người có tài văn học, làm quan đến chức Xã quan; Thân phụ là Ông Lê Doãn Nghi, từng theo học với các vị Tiến Sĩ như Nguyễn Hanh (ở Hoa Cầu, huyện Văn Giang), Đoàn Tuấn Hòa (ở Cự Đồng huyện Siêu Loại), đậu Hương Cống (Cử Nhân) năm 21 tuổi, nhưng rớt kỳ thi Hội ở Thăng Long, bèn kiếm chỗ dạy học ở kinh kỳ để dồi mài kinh sử thêm nữa chờ khóa thi sau.
         Ông Lê Doãn Nghi nằm mộng thấy một vị Thần linh bảo Ông đổi sang họ Đoàn thì mới hiển đạt. Do đó, từ đây, Ông đổi qua họ Đoàn, gọi là Đoàn Doãn Nghi.
         Hiện nay ở huyện Châu Giang tỉnh Hải Hưng còn có ngôi thờ nhà họ Đoàn. Năm 1944, Trúc Khê Ngô Văn Triện (người ở ngoại thành Hà Nội) có tới thăm ngôi thờ nầy và có ghi được đôi câu đối:
Vũ liệt văn khôi quang thế phả,
Lê tiền Đoàn hậu ký Thần ngôn.
Tạm dịch:
Võ giỏi văn tài ngời phả họ,
Lê xưa Đoàn mới nhớ lời Thần.
         Năm Ông Đoàn Doãn Nghi được 20 tuổi, ở tại quê nhà, Ông có lấy một người vợ họ Nguyễn, sanh được một người con trai tên Đoàn Doãn Sỹ, sau Đoàn Doãn Sỹ cũng thi đậu Hương Cống và làm Tri Huyện tại Châu Hoan (Nghệ An).
         Khi Đoàn Doãn Nghi dạy học ở Thăng Long, Ông có lấy thêm một bà vợ nữa là con gái của quan Thái Lĩnh Bá họ Vũ, nhà ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm. Nguyên vào một buổi tối rằm Trung Thu, Ông Hương Cống họ Đoàn cùng mấy người bạn đi xem bày cỗ triển lãm Trung Thu ở kinh thành, thấy nơi đây có một cô gái xinh đẹp rất có duyên thì đâm ra mê mẩn, liền cậy người mối lái đến hỏi cưới.
         Năm 1703, người vợ họ Vũ nầy sanh được một con trai đầu lòng, đặt tên là Đoàn Doãn Luân; qua 2 năm sau, năm 1705, sanh thêm một đứa con gái đặt tên là Đoàn Thị Điểm.
         Hai anh em Luân và Điểm, từ bé được nuôi dưỡng ở gia đình Ông Bà ngoại là quan Thái Lĩnh Bá. Quê của họ Vũ ở làng Vũ Điện, huyện Nam Sang (còn gọi là Nam Xương), nên ngay từ tấm bé, hai anh em thường được nghe mẹ và bà ngoại kể chuyện Thiếu phụ Nam Xương là nàng Vũ Thị Thiết nổi danh tiết liệt.
         Cô Điểm, mặc dầu là gái nhưng rất được gia đình nâng niu, ngay từ thuở nhỏ được học chữ nghĩa giống hệt như anh Luân, học đủ Ngũ Kinh và Tứ Thư. Ngoài ra Cô Điểm còn được mẹ dạy nghề Nữ công làm những món khéo léo đặc biệt để tham dự hội Triển Lãm như: Những khúc mía được làm thành lầu cao gọi là Đài Chín Từng, những trái hồng ngâm dùng làm hình các Cô Tiên múa nón trong đêm Hội Long Trì, những vỏ trái bưởi được cắt xếp thành hình hoa quỳnh, v.v...
         Hai anh em Luân và Điểm lớn lên đều có dáng người đẹp đẽ, tư chất thông minh vượt bực và có văn tài đặc biệt.
         Đoàn Doãn Luân được thân phụ dạy cho chữ Hán ngay từ lúc 3 tuổi, đến khi 5 tuổi thì biết ráp thành câu, đến năm 10 tuổi thì học thông Kinh Sử, đến tuổi trưởng thành thì thi đậu Hương cống, nhưng sau đó lại rớt kỳ thi Hội.
         Đoàn Doãn Nghi hỏi cưới con gái của bạn học cho con trai của mình. Bạn học ấy tên là Lê Hữu Hỷ, có bản chép là Lê Hữu Mưu. Hỷ và Mưu là 2 anh em ruột. Con gái của Hỷ tên là Lê Thị Vy. Sau lễ Hỏi ít lâu, chẳng may Cô dâu bị bệnh đậu mùa, cứu sống được nhưng mặt bị rỗ hoa và chân tay lóng cóng. Bên nhà gái thấy vậy cho người sang xin hủy bỏ cuộc hôn nhân nầy vì e rằng không đảm bảo hạnh phúc vợ chồng. Nhưng Đoàn Doãn Luân nhứt quyết giữ hạnh người quân tử, một dạ thủy chung, không đổi Ó vì sắc đẹp, làm mọi người đều kính phục.
         Lê Thị Vy về nhà họ Đoàn, gặp hoàn cảnh nhà chồng mẹ hiền em thảo, hết lòng giúp đỡ mọi việc trong nhà.
         Năm 1726, vợ Doãn Luân sanh đặng con gái đầu lòng, đặt tên là Đoàn Lệnh Khương, 3 năm sau sanh thêm một trai đặt tên là Đoàn Doãn Y. Ngay từ khi lọt lòng, 2 cháu Khương và Y đều được Cô ruột là Điểm chăm sóc tận tình.
         Đoàn Thị Điểm là một giai nhân đức độ, có tư cách cao thượng, văn tài càng lúc càng thêm lỗi lạc.
         Năm 16 tuổi, Cô Điểm nổi tiếng là một tài nữ trẻ tuổi. Quan Thượng Lê Anh Tuấn, vốn đã quen biết nhiều với Đoàn Doãn Nghi, mến tài văn chương và đức hạnh của Cô Điểm nên nhận Cô làm con nuôi. Kể từ đó, Cô Điểm về ở nhà của dưỡng phụ tại phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long. Quanh đây toàn là dinh thự của các quan lớn trong triều như dinh quan Tham Tụng Nguyễn công Hãn,... Quan lại khắp nơi đều luôn luôn lui tới các nhà quan Đại Thần ở phường Bích Câu để cầu cạnh chức tước bổng lộc; còn các văn nhân lui tới nơi đây để tìm thầy và tìm bạn luyện tập văn bài, chờ khi ứng thí. Đó là dịp để Cô Điểm quen biết nhiều người có danh vọng, có khoa bảng, và cũng chính vì vậy mà tiếng tăm về tài ứng đối văn chương và về hoa tay khéo léo của tài nữ họ Đoàn được đồn vang.
         Có một lần quan Tham Tụng Nguyễn Công Hãn sang chơi bên dinh của Thượng Thơ Lê Anh Tuấn, thấy Cô Điểm đang đi một mình bên bờ dậu, ông dừng lại, bảo Cô Điểm làm câu đối lấy đề tài là đi một mình. Chỉ giây lát, Cô Điểm đọc:
Đàm luận cổ kim tâm phúc hữu,
Truy tùy tả hữu cổ quăng thần.
Dịch nghĩa:
Bàn chuyện xưa nay, tim bụng là bạn,
Đi theo trái phải, tay chân là bờ tôi.
         Ông Hãn đã đỗ Tiến Sĩ năm 21 tuổi, thường tự phụ về tài mẫn tiệp của mình, nay thấy Cô Điểm chưa đầy 20 tuổi mà làm được như vậy thì Ông vô cùng kinh ngạc, khen ngợi luôn miệng, thưởng cho Cô 10 quan tiền và chúc mừng Lê Anh Tuấn có phước.
         Trong thời gian ở nhà dưỡng phụ, Cô Điểm có dịp đọc được rất nhiều sách quí báu trong kho sách của quan Thượng Thơ, nhờ vậy mà kiến thức của Cô Điểm trở nên rộng rãi hơn trước nhiều. Dưỡng phụ của Cô muốn cho Cô có dịp đem tài năng thi thố nên tiến cử Cô vô cung Chúa Trịnh để dạy các cung nữ, nhưng Cô nhứt định từ chối, vì không muốn bị gò bó trong chốn triều đình.
         Cô Điểm có thêu 3 cái túi đựng trầu cau rất đẹp để đeo bên cạnh dây lưng: Chiếc túi thứ nhứt thêu hình 3 cây Tùng Trúc Mai, phía dưới có thêu 2 chữ Tam Hữu; chiếc túi thứ nhì thêu hình Bát Quái, đặc biệt chiếc túi thứ ba thêu 2 câu thơ của Lý Bạch đời Đường:
Đãn sử chủ nhân năng túy khách,
Bất tri hà xứ Thị tha hương.
Dịch nghĩa:
Chỉ cốt chủ nhân say nổi khách,
Chẳng hay đâu nữa chốn quê xa.
         Chiếc túi thêu 2 câu thơ nầy, Cô Điểm rất quí, luôn luôn đeo bên mình. Có người xin đổi chiếc túi ấy với ngôi nhà bằng gỗ soan nhưng không được.
         Tài nữ công của Cô Điểm được các Tiểu thư phường Bích Câu rất khâm phục, nên nhiều cô đến xin học tập.
         Thân phụ của Cô Điểm, Ông Đoàn Doãn Nghi được bạn bè khuyên nên nhận một chức quan nhỏ, nhưng Doãn Nghi với tính phóng khoáng, không quen gò bó luồn lụy, nên không chịu nhận, và Ông chọn con đường dạy học. Hơn nữa, Ông thấy con là Doãn Luân đã đỗ Hương Cống rồi, tuy rớt thi Hội, nhưng còn trẻ, chắc sau nầy có thể đậu được, còn con gái là Cô Điểm thì đã có nơi quyền quí để nương tựa, bề gia thất sau nầy cũng dễ, nên Đoàn Doãn Nghi chuyển đi dạy học ở thôn Lạc Viên, huyện An Dương, nay thuộc Hải Phòng.
         Dạy học ở Lạc Viên được vài năm, Đoàn Doãn Nghi đau bịnh và mất tại đây, vào năm 1729. Anh em Luân và Điểm đưa xác cha về an táng tại quê nhà. Nhiều học trò của Ông Nghi góp tiền làm một nhà thờ, và dựng mộ bia cho thầy học. Bia dựng năm Kỷ Dậu (1729), thời vua Lê Vĩnh Khánh.
         Nhân tiện chuyến nầy, Đoàn Doãn Luân đưa vợ con về ở luôn quê nhà là làng Hiến Phạm, sau đó lại chuyển qua ở làng Vô Ngại gần bên.
         Lúc nầy, Đoàn Thị Điểm cũng xin với dưỡng phụ cho phép về quê nhà đặng săn sóc mẹ già, giúp anh và chị dâu quán xuyến công việc gia đình.
         Đoàn Doãn Luân mở trường dạy học. Chị dâu trước đây là một tiểu thư khuê các, nhưng vì bịnh đậu mùa làm cho gương mặt trở nên xấu xí, tay như có tật, nên Cô Điểm đứng ra thay thế chị dâu lo việc tề gia nội trợ, lại giúp anh trong việc giao thiệp với bên ngoài. Cô Điểm tỏ ra rất đảm đang và lịch thiệp trong mọi công việc. Mỗi khi anh Luân đau ốm, Cô thường thay thế anh Luân giảng sách cho đám học trò.
         Nhiều giai thoại văn chương rất lý thú xảy ra trong giai đoạn nầy còn ghi chép trong sách vở. (Xem ở phần sau).
         Gia đình họ Đoàn đang sống an vui như thế thì Đoàn Doãn Luân bị bạo bịnh đột ngột từ trần, để lại 2 đứa con thơ chưa đầy 10 tuổi với một người vợ gần như tật nguyền, và một mẹ già tóc bạc. Năm đó là năm 1735.
         Đoàn Thị Điểm đọc một bài văn tế trước quan tài của anh rất lâm ly thống thiết, nhắc lại cảnh gia đình đơn chiếc, ai nấy đều cảm động không cầm được giọt lệ. Cô Điểm và chị dâu đưa xác anh về an táng nơi quê nhà, kế mộ phần của cha.
         Gia cảnh bây giờ rất hiu quạnh, chị dâu thì thiếu đảm đang, lại mất sinh kế nuôi sống gia đình. Cô Điểm phải mở tiệm xem mạch và hốt thuốc Bắc cho dân chúng quanh vùng. Cô có tay phục dược, nên người đến xem mạch hốt thuốc khá đông, nhờ vậy có đủ tiền nuôi mẹ và lo cho 2 cháu và chị dâu được tươm tất.
         Đối với mẹ thì Cô Điểm được trọn hiếu, đối với chị dâu thì trọn nghĩa, nuôi dạy 2 cháu Lệnh Khương và Doãn Y khôn lớn nên người.
         Trong thời gian nầy, nhiều người đem lễ vật trọng hậu tới cầu hôn, nhưng Cô Điểm nhứt định từ chối. Cô rất kén chồng vì Cô gồm đủ tài sắc và đức hạnh. Cô kén một người chồng có tài đức tương xứng với Cô, chớ không nghĩ đến giàu sang hay chức tước. Cô rất ghét bọn giàu có mà dốt nát. Nhiều người có quyền thế tìm cách bắt ép Cô phải ưng họ, nhưng Cô cương quyết không chấp nhận và tìm cách tránh né. Việc nầy đã làm Cô bực mình không ít. Một việc đáng ghi nhớ là quan Bính Trung Công Vũ Tất Thận, cậu ruột của Chúa Trịnh Doanh định làm lễ rước dâu bắt cóc Cô Điểm. Ông tổ chức một lễ rước dâu với đầy đủ nghi tiết mà không cho gia đình Cô Điểm biết trước, thình lình đi đến nhà Cô Điểm. Ông sắp đặt sẵn với đám gia nhân, xông đại vào nhà, bắt ép Cô Điểm mặc áo Cô dâu vào, rồi đỡ Cô ra kiệu rước về phủ. Cô Điểm như đã có chuẩn bị trước, liền bình tỉnh đi ra nhà sau, mặc giả dạng là đầy tớ đi mò cua, bùn đất dính đầy quần áo, mặt mày tèm lem, đội nón rách đi thẳng ra cổng rồi lánh mặt sang làng bên. Thế là quan Bính Trung Công bị một phen mắc lỡm.
         Nhân dịp có người tiến cử Cô Điểm vào cung Chúa Trịnh để dạy học, Cô Điểm không từ chối như lần ở với dưỡng phụ, liền nhận lời để khỏi phải lo đối phó với những kẻ không xứng đáng đến cầu hôn hoài.
         Trong thời gian làm việc trong cung, Cô luôn luôn liên lạc với gia đình để cung cấp tiền bạc nuôi mẹ già, chị dâu và 2 cháu. Nhưng khi ở trong cung, Cô lại thấy rõ những điều xấu xa bỉ ổi trong đám quan lại, sự thối nát của triều đình, nên Cô chán nãn xin trở về quê nhà.
         Lúc bấy giờ, giặc giã nổi lên đánh phá khắp nơi, Cô Điểm cùng mẹ, chị dâu và 2 cháu phải bỏ làng Vô Ngại, tản cư đến làng Chương Dương bên bờ sông Nhị Hà, gần Hà Nội. Năm ấy là năm 1739, Cô Điểm được 35 tuổi.
         Cô không muốn làm nghề xem mạch hốt thuốc nữa, vì nó không phải là chí hướng của Cô, mà chí hướng của Cô là mở trường dạy học, mong đem hết sở học bình sanh truyền lại cho thế hệ sau, đào tạo lớp người mới, vừa có kiến thức cao, vừa có đạo đức để giúp dân giúp nước. Cô rủi sanh làm phận Nữ lưu, nên dù học hành tài giỏi đến bực nào đi nữa cũng không được phép ra ứng thí để thi thố tài năng, nên việc mở trường dạy học là một lối thoát cho tinh thần của Cô, và Cô cũng nhận thấy, từ trước tới nay chưa có một phụ nữ nào dạy học mà có học trò thành đạt cả. Cô quyết tâm làm nên sự lạ, nên xin mở trường dạy học đào tạo nhân tài. Đúng với lòng mong ước của Cô, trong số học trò, có Ông Đào Duy Doãn ở làng Chương Dương, sau nầy thi đậu Tiến Sĩ năm 1763 (nhưng rất tiếc Cô Điểm không hưởng được niềm vui nầy vì Cô đã mất năm 1748).
         Trong thời gian Cô Điểm dạy học, Ông Nguyễn Kiều nhiều lần đến xin cầu hôn. Năm đó Cô Điểm 37 tuổi.
         Ông Nguyễn Kiều, hiệu là Hạo Hiên, sanh năm 1695 (lớn hơn Cô Điểm 10 tuổi), tại làng Phú Xã huyện Hoài Đức, 18 tuổi đậu Giải Nguyên, 21 tuổi đậu Tiến Sĩ, là người có tài văn học lỗi lạc.
         Năm 1717, Nguyễn Kiều được bổ làm quan Đốc Đồng ở Nghệ An, và năm 1736 được thăng chức Thị Lang. Ông là bậc danh nho nổi tiếng từ thời còn trẻ, văn hay chữ tốt, sớm đỗ đại khoa nên tính khí có phần kiêu ngạo. Nhiều nhà quyền quí gọi Nguyễn Kiều đến gả con gái cho. Vợ đầu tiên của Nguyễn Kiều là Cô Lê Thị Hằng, con gái của quan Thượng Thơ Lê Anh Tuấn, dưỡng phụ của Cô Điểm. Cô Hằng mất sớm và không có con. Người vợ kế là Cô Đoan, con gái của quan Tham Tụng Nguyễn Quí Đức. Cô Đoan sanh được 2 con trai và 1 con gái, rồi cũng qua đời lúc chưa tới 30 tuổi.
         Sách Đoàn Thị Thực Lục chép việc Ông Nguyễn Kiều cầu hôn Cô Điểm như sau: "Một hôm Cô đang giảng bài cho học trò thì từ ngoài có một người vén rèm bước vào, theo sau có vài đầy tớ mang cái quả sơn son thếp vàng, trong quả có một phong thơ dán kín. Bức thơ nầy là của quan Thị Lang, người làng Phú Xã, tên là Nguyễn Kiều gởi thơ đến cầu hôn. Cô Điểm chép miệng than rằng: Lúc trẻ ta mong được người nầy đến cầu hôn. Đã trải qua hơn 20 năm, ta không bao giờ nghĩ tới nữa. Ta từng nhủ lòng, hạng người tài tử giai nhân rất hiếm trên đời nầy. Tốt hơn ta nên rửa lấy lòng trần, an nhàn nuôi lấy khí tượng thanh bình."
         Cô Điểm còn đang suy nghĩ chưa vội trả lời thì chừng 10 ngày sau, Nguyễn Kiều lại sai một người mang thơ đến nữa. Trong bức thơ kỳ nầy, lời lẽ rất khẩn thiết chân thành, có đoạn như sau: "Tôi rất bận việc quan, lại phải lo chuẩn bị lên đường, việc nhà không ai coi sóc và cai quản. Tôi nghĩ rằng Cô cùng nội trợ tôi vốn trước có tình nghĩa chị em, nếu Cô vui lòng đùm bọc cho nội trợ tôi thì thật là may mắn cho cả nhà tôi đó."
         Cô Điểm đọc thơ lần nầy có vẻ cảm động, nhưng vẫn chưa muốn đem mình vào cuộc hôn nhơn muộn màng, gây thêm phiền nhiễu, nhưng mẹ già và cả gia đình đều muốn Cô chấp nhận, cả đám học trò cũng hoan nghinh, nên Cô Điểm chấp nhận kết hôn với Nguyễn Kiều, lúc đó là năm 1743, Cô Điểm được 39 tuổi.
         Bà Đoàn Thị Điểm về nhà chồng, sống với chồng rất tâm đầu Ó hợp, khi rảnh thường hay xướng họa thơ văn. Nhưng chưa đầy một tháng sau thì quan Thị Lang Nguyễn Kiều được lịnh vua làm Chánh Sứ sang triều cống nhà Thanh. Ông phải từ giã Bà để phụng chiếu ra đi. Lệ thường, đi sứ như vậy trong vòng 2 năm thì trở về tới nhà, nhưng lần nầy, khi sứ bộ trở về tới Quảng Tây, gặp lúc dân chúng vùng nầy nổi lên chống nhà Thanh nên bị nghẽn đường. Sứ bộ Việt Nam  phải lưu lại cả năm trời, chờ cho đến khi yên giặc. Trong thời gian nầy, Nguyễn Kiều làm nhiều bài thơ, gởi hồn mộng nhớ nhung đến người vợ mới cưới nơi quê nhà, nhứt là trong những ngày Tết tha hương:
Tứ thơ niềm khách bên đèn mộng,
Tiếng pháo hò xe rộn ngõ ngoài.
         Trong lúc Nguyễn Kiều đi sứ Trung Hoa, ở nhà, Bà Đoàn Thị Điểm, khi thì ở bên nhà chồng săn sóc 3 đứa con của chồng trong đời vợ trước, khi trở về nhà mẹ ruột thăm hỏi mẹ già, cùng chăm nom 2 đứa cháu kêu bằng Cô ruột.
         Trong khoảng thời gian nầy, Ông Đặng Trần Côn có gởi đến cho Bà xem thi phẩm của Ông: Chinh Phụ Ngâm viết bằng Hán văn. Bà đọc say mê, vì tác phẩm nầy hay quá! Bà cảm thấy nỗi lòng của nàng chinh phụ trong tác phẩm giống hệt tâm trạng của Bà trong lúc nầy. Cho nên Bà đem hết sự rung động trong lòng về nỗi cô đơn, nhớ nhung, lo lắng cho chồng mà dịch ra thơ Nôm bản Chinh Phụ Ngâm Hán văn của Đặng Trần Côn. (Xem phần sau: Tâm trạng Bà Đoàn Thị Điểm khi diễn nôm Chinh Phụ Ngâm).
         Chính tác phẩm Chinh Phụ Ngâm diễn Nôm nầy đưa tên tuổi của Bà Đoàn Thị Điểm lên đỉnh cao trong nền văn học nước nhà.
         Ngày Nguyễn Kiều đi sứ trở về, vợ chồng sum họp sau hơn 3 năm xa cách nhớ nhung, Bà Đoàn trao cho chồng xem bản diễn Nôm Chinh Phụ Ngâm như là bức tâm thơ bày tỏ với chồng tất cả nỗi niềm thương nhớ sau hơn 3 năm dài xa cách. Nguyễn Kiều xem xong vô cùng cảm động và kính phục tài năng của vợ.
         Chuyến đi sứ thành công, Nguyễn Kiều được vua khen thưởng và cho thăng quan tiến chức. Ít lâu sau, Ông được bổ làm Tham Thị ở Nghệ An.
         Thế là Nguyễn Kiều chuẩn bị đi vào Nghệ An nhậm chức. Ý của Bà Đoàn không muốn theo chồng vào Nghệ An, vì ở nhà còn mẹ già và các cháu thiếu ngưềi chăm sóc, cũng như linh tính báo cho Bà biết có điều gì không lành trong chuyến đi nầy xảy đến cho Bà, nhưng Nguyễn Kiều hết lời nài nỉ đem Bà đi theo. Cuối cùng Bà phải chiều chồng, làm bổn phận người vợ tùng phu, xuống thuyền cùng chồng đi vào Nghệ An, với nỗi lòng lo âu buồn bã.
         Thuyền xuôi dòng sông Nhị Hà, theo cửa bể Thần Phù để vào sông Chính Đại. Lúc thuyền đến bến Đền Sòng, nơi thờ Công Chúa Liễu Hạnh, Bà bị cảm rất nặng. Biết mình không thể sống được, Bà trăn trối cùng chồng: "Chàng nên cố gắng lo tròn việc nước để trở về kinh sớm ngày nào tốt ngày đó, chớ nên ở lâu nơi chốn biên thùy nầy mà dấn thân vào nơi gió bụi hiểm nguy."
         Trối xong, Bà từ trần, lúc đó là ngày 11 tháng 9 năm Đinh Mão (1748), hưởng được 44 tuổi. Bà chưa có con với Nguyễn Kiều.
         Nguyễn Kiều vô cùng thương tiếc người vợ tài ba lỗi lạc mà lại vắn số. Ông quàn quan tài vợ tại Nghệ An đến một tháng sau mới đưa linh cữu trở về quê nhà của Bà an táng.
         Trong thời gian nầy, Ông lập đàn cúng tế rất nghiêm bên bờ sông để tế lễ Bà. Ông đọc một bài văn tế rất bi ai thống thiết bằng Hán văn, được Ông Hoàng Xuân Hãn diễn Nôm trong cuốn Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo, chép ra sau đây:
Ô hô! Hỡi nàng! Huệ tốt Lan thơm!
Phong tư lộng lẫy, cử chỉ đoan trang,
Nữ đức trọn vẹn, tài học ngõ ngàng.
Giáo mác, ấy bàn luận,
Gấm vóc, ấy văn chương.
Nữ trung, rất hiếm có như nàng.
Sao mà lại,
Gia thất chậm hơn Mạnh Quang,
Con cái hiếm hơn Trang Khương,
Dứt tuổi Từ Phi, vui tài Ban Nương.
Sao hóa cơ khó đoán,
Mà Thiên mệnh phi thường lắm thay!
Xưa nghe được tiếng nàng,
Bèn kết thân hai họ.
Nàng về nhà tôi, vẹn tròn đạo vợ,
Việc bút nghiên tài lạ hằng chuyên,
Nghề kim chỉ tay sành chẳng bỏ.
Thường thường đàm luận cổ thi,
Ngày ngày xướng thơ họa phú.
Ba năm đi sứ Bắc, mày liễu buồn chau,
Năm Sửu trở về nhà, mặt hoa cười nở.
Lúc rảnh việc, cùng vui thú văn hàn,
Mới có chỉ sai trở vào xứ Nghệ.
Non sông chẳng ngại đường dài,
Tần tảo quyết theo nội trợ.
Đường sông nghìn dặm gian nan,
Doanh liệt ba tuần tới đó.
Một bệnh càng thêm, trăm phương khó chữa,
Đào chưa quả đã vội khô,
Quế đang thơm mà đã rủ!
Rừng sâu bể rộng, nàng hỡi đi đâu?
Ngọc nát châu chìm, lòng tôi quặn nhớ.
Những muốn chèo thuyền lan mà sớm phát,
Đưa giá liễu chóng về,
Hẹn lại quê nhà an táng.
Dốc đem Ó hậu theo đi.
Nhưng, nghĩa cùng thời trái việc hẳn lòng tùy,
Nửa bước khó dời trấn sở.
Một thân khó vẹn công tư.
Lối về trên bến, tạm dựng bàn thờ,
Lệ tiễn hai hàng chan chứa,
Tình thương một lễ đơn sơ,
Sóng gió xin đừng kinh sợ,
Đường đi chớ ngại rũ rờ.
Hương hồn nàng yên nghỉ,
Cố ấp tôi hằng mơ.
Thượng hưởng!

[Mục lục ] [ Thân thế. ] [ Sự nghiệp văn chương. ] [ Tâm trạng của Bà Đoàn khi diễn Nôm Chinh Phụ Ngâm. ] [Những giai thoại văn chương. ]  Top of Page

TẦN CUNG OÁN - CUNG OÁN NGÂM KHÚC


Ôn Như Hầu soạn - Tự Đức thập cửu niên tân san
CUNG OÁN NGÂM KHÚC
Phú Văn Đường tàng… (1)

Tác phẩm thơ Nôm của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều viết vào thế kỉ XVIII lấy đề tài nỗi oán cung nhân, viết bằng thể ngâm song thất lục bát. Không biết lúc sáng tác, Nguyễn Gia Thiều đã lấy tên gì song bản in bằng chữ Nôm hiện nay còn lưu giữ được ở Thư viện Quốc gia dù đã rất cũ nát, được bồi lại bằng giấy dó nhưng vẫn còn đọc được rõ chữ, đã ghi là 溫如侯撰 嗣德拾玖年新刊 宮怨吟曲 富文堂藏… Ôn Như Hầu soạn, Tự Đức thập cửu niên tân san, Cung oán ngâm khúc, Phú Văn đường tàng [bản]nghĩa là Cung oán ngâm khúc  do Ôn Như Hầu soạn, nhà in Phú Văn khắc in vào năm Tự Đức thứ 19 (tức là năm 1866).

Căn cứ tư liệu của nomfoundation.orghiện chỉ còn một bản Nôm này lưu trữ ở thư viện Quốc gia. Một bản khác cũng khắc in vào năm Tự Đức thứ 19, trước kia thuộc thư viện Viễn Đông Bác Cổ, ký hiệu AB.392 nhưng sau đó đã đem về Paris. Vậy bản Nôm cung oán xưa nhất hiện còn lưu giữ được ở nước ta có tên Cung oán ngâm khúc. Tuy nhiên có một điều lạ là vào khoảng những năm đầu thế kỉ XX, khi đã có kĩ nghệ in bản kẽm của Pháp mang sang, nhiều nhà in ở Hà Nội không biết đã phiên âm từ bản Nôm nào mà đã in nhiều lần tác phẩm của Ôn Như Hầu với tên TẦN CUNG OÁN.



   

Các bản in TẦN CUNG OÁN xuất bản đầu thế kỷ XX (3)

 

“TẦN CUNG OÁN” LÀ TÊN CỦA TIỂU THUYẾT TÀU


“Tần cung oán” nghĩa là nỗi oán của cung nữ nhà Tần, là đề tài của văn học Trung Hoa. Tần Thuỷ Hoàng là nhà quân sự chính trị có tài với những công cuộc cải cách độc đáo, đã xây dựng được một chế độ mạnh mẽ nhất Trung Quốc theo đường lối pháp trị nhưng vì cai trị quá hà khắc tàn bạo nên chỉ tồn tại 15 năm; tuy vậy  Tần đã để lại được những dấu ấn sâu sắc trong lịch sử và văn học. Tiểu thuyết Trung Quốc có truyện “Tần cung oán” của Đoan Mộc Tố Tình. Truyện xoay quanh chủ đề thân phận bi đát, nỗi hờn oán của cung nữ đời Tần Thủy Hoàng.

Nguyên là Tần Thủy Hoàng sau khi thôn tính 6 nước, đã cho gom trên một vạn mỹ nữ đem về Hàm Dương rồi tuyển lấy 3.000 cung nữ giam vào cung A Phòng. Người đẹp đông quá nhưng chỉ có một vua Tần; nỗi oán ngất trời vì nhiều mĩ nhân suốt cả quãng đời trong cung chưa một lần được gặp quân vương; có người may mắn lắm thì gặp vua được một đôi lần rồi suốt nhiều năm tháng đằng đẵng ngóng trông, ôm nỗi sầu cô quạnh… Nhà Tần bại vong vào năm 206 TCN, Bái Công (Hán Cao Tổ) vào Hàm Dương. Hơn 10 tháng sau Hạng Vũ cũng đến Hàm Dương, xử tử vị vua thứ 3 của Tần là Tử Anh đã đầu hàng. Cung A Phòng bị Hạng Vũ đốt, lửa cháy liền 3 tháng không tắt. Mấy ngàn cung nữ của vua Tần chạy tan tác…

Cũng cùng đề tài trên, nước ta có Đặng Trần Thường đã viết tác phẩm “Tần cung oán” nhưng đây lại là một bài văn biền ngẫu gồm 43 cặp câu đối nhau, diễn tả tâm tư của các cung nữ nhà Tần than oán Bái Công đã thờ ơ chẳng đoái hoài gì đến thân phận các mĩ nhân:

Ngán ngẩm thay! Nắng chẳng thương hoa,
Ghê gớm bấy! mây nào xót nguyệt”…     (2)

Chính vì nội dung này tác phẩm còn có tên : “Tần cung nữ oán Bái Công văn”.

Đặng Trần Thường là hậu sinh, nhỏ hơn Nguyễn Gia Thiều đến 18 tuổi, tuy cũng trưởng thành vào thời Lê-Trịnh ở miền Bắc nhưng lại vào Nam làm quan triều Gia Long. Bài văn là tác phẩm viết bằng chữ Nôm nhưng đầy ngập điển tích của Tàu, từ đầu đến cuối hầu hết chỉ tập trung vào việc dùng điển tích để mô tả, bộc lộ tâm tư của những mĩ nhân tủi thân phận, than tiếc cho nhan sắc mĩ miều của mình chẳng được ai đoái hoài.

KHÚC NGÂM CUNG OÁN ĐƯỢC NGUYỄN GIA THIỀU ĐẶT TÊN LÀ
 “TẦN CUNG OÁN” HAY “CUNG OÁN NGÂM KHÚC” ?

Trả lời câu hỏi, nếu chỉ căn cứ vào bản in khắc ván đời Tự Đức đã nêu trên để khẳng định tên tác phẩm chắc chắn là “Cung oán ngâm khúc” thì cũng chưa phải bởi vì tuy đây là bản sách cổ song vẫn ra đời đến khoảng 100 năm sau so với nguyên tác. Vì là bản chép lại nên hẳn là có các sai lệch so với bản gốc. Có thể đoan chắc điều này, bởi lúc tác phẩm ra đời, đất nước liên miên trải qua nhiều cơn binh lửa; từ Bắc chí Nam, bao nhiêu cuộc binh biến xảy ra giữa các thế lực Trịnh - Nguyễn…, nạn Kiêu binh cùng bao nhiêu các cuộc nội loạn… rồi Mãn Thanh xâm lược, Tây Sơn thắng quân Thanh nhưng lại sớm mất sơn hà về tay chúa Nguyễn… Qua nhiều biến cố, bản chính khó lòng tồn tại mà chỉ còn lại những bản sao của các nhà Nho.

Việc truyền bá một tác phẩm vào thời này là do các Nho sĩ chuyền tay nhau đọc rồi chép lại. Lúc chép thì tùy ý thích, tùy kiến văn mỗi người mà tự mình sửa chữa, thêm bớt câu chữ và ngay cả tên tác phẩm đôi khi cũng bị sửa đổi, khác nguyên bản ban đầu. Nhất lại là tác phẩm viết bằng chữ Nôm thì các  dị bản với độ sai lệch cao lại càng dễ xuất hiện.

Một giả thuyết có thể nêu là trong tình huống vào khoảng 10 năm gần cuối đời, Nguyễn Gia Thiều không còn được chúa Trịnh tin dùng như trước và dù đang đương chức vẫn tỏ ra thờ ơ với danh lợi chốn quan trường, chỉ thích ngâm vịnh văn thơ và đàm đạo triết lí nhà Phật. Viết khúc ngâm cung oán, Nguyễn Gia Thiều cũng bộc lộ tư tưởng định mệnh và chán cảnh ràng buộc phú quý (…Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm/ Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon…). Thể hiện tâm tư vào tác phẩm dưới thời phong kiến chuyên chế không dễ - bởi vì dù đang là quan to giữa triều người ta cũng rất dễ mắc vào họa văn tự nhất là khi tác phẩm được viết lại có nhiều câu chữ phạm thượng:

Hạt mưa đã lọt miền đài các
Những mừng thầm cá nước duyên may
Càng lâu càng lắm điều hay
Cho cam công kẻ nhúng tay thùng chàm
Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt
Nguồn ơn kia chẳng tát mà vơi
Suy di đâu biết cơ trời  
Bỗng không mà hóa ra người vị vong

Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ
Xe thế này có dở dang không?
Đang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra

Vào cung, sánh duyên với vua mà lại ví như trót làm điều lầm lỗi không còn cách nào gỡ được (nhúng tay thùng chàm). Sống kiếp cung phi phòng không vò võ lại được ví với cảnh phụ nữ chết chồng (người vị vong). Tất cả cái bực tức hóa thành thái độ phản kháng “bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra”… Sự bực dọc cùng những câu chữ trên đủ bằng cớ để ghép Nguyễn Gia Thiều  vào tội đại nghịch ngôn nếu như đây không phải chỉ để nhằm diễn đạt lại cái tàn ác của bạo chúa nhà Tần trong sử sách kinh điển.

Diễn tả nỗi lòng cung nữ bằng nhiều câu chữ táo bạo như thế có thể là mối lo họa sát thân khiến tác giả khúc ngâm cung oán phải chọn đường tránh bằng cách cẩn thận lấy tích trong sử sách xưa mà đặt tên tác phẩm. “Tần cung oán”có thể là tên gốc ban đầu. Nhiều năm tháng trôi qua, một số bản mới được chép khi nhà Trịnh đã suy tàn. Lúc này người sao chép có thể đã tự ý đổi tên cho hợp lí hơn là “Cung oán ngâm khúc” rồi hình thành các bản khắc mới đời nhà Nguyễn. Cứ thế cho đến đầu thế kỉ XX, trong quần chúng vẫn tồn tại song song các bản chép với hai tên khác nhau… và tùy theo từng nhà xuất bản đã cho ra đời nhiều sách in bản kẽm với tên Tần cung oán; cũng có nhiều sách quốc ngữ, sách dịch ra Pháp văn lại ghi là Cung oán ngâm khúc. Tên này nay đã trở thành tên chính thống.




Các bản in CUNG OÁN NGÂM KHÚC xuất bản đầu thế kỉ XX (3)

CHÚ THÍCH:

(1)     Vốn là chữ  藏 板 (tàng bản); chữ “bản” đã rách mất - Bản chụp văn bản lưu trữ của Thư viện Quốc gia. (http://lib.nomfoundation.org)
(2)     Cặp câu 23. Tần cung oán (Tần cung nữ oán Bái Công văn) của Đặng Trần Thường.
(3)     Ảnh sachxua.net
Nguyễn Cẩm Xuyên